Phóng viên Một Thế Giới đã có dịp tiếp xúc với các nhà khoa học và vô cùng khâm phục sự hi sinh, tâm huyết của họ. Chúng ta dễ dàng cảm nhận được những nụ cười hạnh phúc của nhà khoa học khi một công trình nghiên cứu thành công. Nhưng ít ai hiểu để có được những khoảnh khắc ăn mừng diễn ra rất nhanh ấy, lại là hàng chục năm “thai nghén”, ấp ủ, nghiên cứu, thí nghiệm… tốn rất nhiều tiền của, tâm huyết, vượt qua “thung lũng chết” để đưa kết quả từ phòng thí nghiệm ra ứng dụng trong thực tiễn. Với những nhà khoa học nam, việc theo đuổi đam mê đã vô cùng vất vả; thì với các nhà khoa học nữ, “con đường ấy” còn gian nan tới mức nào? Cà phê Một Thế Giới có cuộc trò chuyện với GS-TS Vũ Thị Thu Hà – một trong những nhà khoa học nữ trẻ nhất được nhận giải thưởng Kovalevskaia lần thứ 26 năm 2011, khi bà 41 tuổi - để tìm lời đáp cho câu hỏi đó.

- Đã 14 năm trôi qua kể từ ngày bà nhận giải thưởng Kovalevskaia. Giải thưởng đó chắc hẳn đã tiếp thêm nhiều động lực để bà tiếp tục hoàn thành những công trình nghiên cứu khoa học đáng tự hào?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Giải thưởng đó là một sự nhìn nhận, đánh dấu thành công bước đầu của tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học, sáng chế ra các quy trình công nghệ như: sản xuất nhiên liệu sinh học, vật liệu xúc tác dị thể cấu trúc nano, tạo ra các sản phẩm thân thiện môi trường phục vụ phát triển bền vững. Tôi cũng cảm thấy có trách nhiệm, cần phải nỗ lực hoàn thiện năng lực chuyên môn trong giai đoạn sau này.

Gần đây, chúng tôi đã thành công với bộ phụ gia đa năng ECOAL và FNT6VN. Để có được hai phụ gia thế hệ cuối cùng này, chúng tôi đã nghiên cứu nhiều thế hệ khác nhau từ năm 2012 với mục tiêu tiết kiệm năng lượng, giảm khí thải. Đến năm 2020, ECOAL và FNT6VN mới ra đời nhưng lúc đó mới chỉ dừng ở dạng tiềm năng thương mại. Từ kết quả trong phòng thí nghiệm đến ứng dụng vào thực tiễn, nghĩa là tạo ra sản phẩm bán ở ngoài thị trường còn khó khăn hơn nữa và con đường đó, giới nghiên cứu gọi là “thung lũng chết”, mỗi bước đi đều đi kèm nhiều rủi ro gắn với vấn đề tài chính. Thành hay bại phụ thuộc vào nhiều tác nhân thực tiễn tác động, chứ không còn phụ thuộc vào các yếu tố thuần tuý trong phòng thí nghiệm.

Thời điểm năm 2021, chúng tôi đã chi phí rất nhiều nhưng chưa có được ứng dụng đột phá. Lúc đó, dịch Covid-19 bùng phát, chi phí than tăng vọt lên rất cao, thị trường than lên tới 4,9 - 5 triệu đồng/tấn. Nhà máy Xi măng Tân Thắng trong quá trình đi tìm giải pháp tiết kiệm nhiên liệu, giảm chi phí vận hành đã tìm tới và hợp tác với chúng tôi. Sau 3 ngày đầu thử nghiệm với phụ gia ECOAL không có tác dụng gì, phải tới ngày thứ 4 mới có tín hiệu tốt và sau 7 ngày thì phụ gia cho thấy tác dụng rõ rệt. Với phụ gia này, than có phẩm cấp thấp, giá rẻ vẫn có thể cháy tốt trong lò.

Bản chất của phụ gia chính là việc tiêu thụ bớt than thông qua việc thúc đẩy than vừa cháy hoàn toàn (cháy sạch), vừa cháy ở vùng cần cháy và đúng tại thời điểm cần cháy. ECOAL đáp ứng được tổng thể tất cả những điều đó. Giai đoạn 2021-2022, phụ gia ECOAL giúp nhà máy tiết kiệm được tới 170 tỉ đồng. Sau dịch Covid-19, giá than thấp đi, nhà máy vẫn còn tiết kiệm được khoảng 130 tỉ đồng/năm.

Với phụ gia FNT6VN dùng cho nhiên liệu lỏng, nhà máy dùng FNT6VN khi khởi động lại lò, tiết kiệm được 11,8% nhiên liệu lỏng, và có thể dùng nhiên liệu lỏng phẩm cấp thấp, giá rẻ như dầu DO (dầu diesel) tái chế, dầu FO (dầu mazut) tái chế.

Về tác động môi trường, sử dụng phụ gia ECOAL và FNT6VN cũng giúp giảm tải cho hệ thống xử lý khí thải, giúp chỉ tiêu về khí thải giảm đi nhiều, tăng tuổi thọ lò nung, quá trình vận hành diễn ra trơn tru, giảm được rất nhiều vấn đề cần phải xử lý.

- Với những lợi ích thiết thực của ECOAL và FNT6VN, bà đang tiếp tục phát triển theo hướng nào để phụ gia này được ứng dụng phổ biến trong thực tiễn?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Dù hiện tại không còn được hỗ trợ bởi bất kỳ nguồn kinh phí nào nhưng hằng ngày, hằng giờ, chúng tôi vẫn bỏ tiền túi, công sức để tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, phát triển, đăng ký sở hữu trí tuệ ở Mỹ.

Một hồ sơ như vậy, không tính kết quả ra sao, chỉ riêng phí nộp hồ sơ cũng mất khoảng 200 triệu đồng/lần nộp. Cuối tháng 8 vừa qua, chúng tôi đã nhận được bản cứng bằng độc quyền sáng chế (Patent) từ Mỹ đối với công trình này. Nhìn chung, các đơn Sáng chế mà chúng tôi nộp tại Mỹ được thẩm định và được cấp bằng rất nhanh, gần như không phải qua vòng phúc đáp nào đáng kể. Điều này thể hiện tính đổi mới sáng tạo rất đặc biệt của các công nghệ/sản phẩm mà chúng tôi đăng ký bảo hộ độc quyền.

Với ECOAL, ứng dụng cho than đã chứng minh được trong thực tiễn. Thời gian tới, chúng tôi sẽ đi tiếp vào khí. Còn FNT6VN ứng dụng cho tất cả các loại nhiên liệu lỏng gồm nhiên liệu truyền thống (xăng, dầu DO, dầu FO), nhiên liệu đốt lò tái chế (dầu nhiệt phân cao su phế thải), nhiên liệu đốt lò từ sinh khối (dầu vỏ hạt điều), và tất cả nhiên liệu sinh học.

Cùng với đó, chúng tôi sẽ phát triển phụ gia dầu FO dành cho tàu thuỷ chạy trên biển. Tất cả những điều đó đều có ý nghĩa rất lớn, mang lại lợi ích kép, tiết kiệm nhiên liệu, giảm khí thải, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) của Việt Nam vào năm 2050.

Phụ gia ECOAL và FNT6VN còn giảm chi phí bảo dưỡng, làm đơn giản hoá quá trình vận hành… Chúng tôi hiểu rất rõ về sản phẩm của mình và đang dành tất cả tâm huyết, sức lực cũng như mọi nguồn lực của mình để làm sao tiếp tục đưa phụ gia ECOAL và FNT6VN ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Ứng dụng càng phổ biến bao nhiêu thì càng nhiều cá nhân, tổ chức, xã hội được hưởng lợi bấy nhiêu.

- Trong hơn 30 năm nghiên cứu khoa học, có công trình nghiên cứu khoa học nào mà bà cảm nhận rõ ranh giới giữa thành công – thất bại vô cùng mong manh?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Nhiều lắm và chung quy lại đều liên quan tới lĩnh vực năng lượng xanh, năng lượng sạch, tiết giảm năng lượng. Mỗi một công trình mà bây giờ tôi ngồi đây chia sẻ với bạn để nói về thành công bước đầu, thì nó đều được khởi động từ 10-15 năm trước.

Chẳng hạn như với công trình về nhiên liệu Biodiesel. Khi đi nghiên cứu sinh từ Pháp trở về năm 1999, tôi đã mang theo ý tưởng sản xuất nhiên liệu sinh học thay thế dầu diesel. Nhưng lúc ấy, ý tưởng còn quá sớm, đề xuất của tôi không được chấp thuận - đó cũng là thất bại đầu tiên. Vài năm sau, nhu cầu về nhiên liệu sinh học mới bắt đầu hình thành ở Việt Nam. Đến năm 2007, tôi mới có cơ hội triển khai nghiên cứu và gắn bó với Biodiesel cho đến nay. Tôi nghĩ, khi một xu hướng xuất hiện, tham gia vào là điều dễ hiểu. Nhưng điều quan trọng hơn là, ngay cả khi xu hướng đó lắng xuống, chúng tôi vẫn kiên trì theo đuổi vì tin rằng đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết - sẵn sàng tự bỏ kinh phí nghiên cứu khi không còn nguồn hỗ trợ từ nhà nước.

Từ năm 2007 đến nay, tức là sau 18 năm kiên trì, chúng tôi mới bắt đầu gặt hái những thành quả đầu tiên, khi một số doanh nghiệp đầu ngành đã nhìn thấy và đặt niềm tin vào công nghệ Biodiesel mà chúng tôi phát triển. Tôi tin rằng trong vài năm tới, hướng đi này sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp và thiết thực.

Sau những gì đã trải qua, tôi muốn nói là khi tôi đã xác định một con đường có nghĩa là tôi đã nghiên cứu rất kỹ về xu hướng, nhu cầu, tổng quan xem mình đang ở đâu so với thế giới và mình nên làm gì. Tôi đã làm rất kỹ lưỡng, chắc chắn trong bước đầu tiên. Và khi đã xác định mục tiêu khoa học của mình, tôi sẽ theo đuổi đến cùng và không bao giờ lăn tăn giữa đường.

Tôi cứ theo đuổi nó mãi, biết là rất khó khăn nhưng tin tưởng nó sẽ đạt được kết quả tốt. Khi đã tin tưởng rồi thì mình lại càng vững tâm đi từng bước nhỏ và những kết quả đạt được đều chắc nịch, là cơ sở chắc chắn cho bước tiếp theo.

Có lẽ vì vậy mà tôi được doanh nghiệp đánh giá cao, khi họ cần đặt gì lên bàn là mình đáp ứng được. Tôi không hứa ngay mà sẽ kiểm tra rất kỹ lưỡng từng công đoạn và khi đã chốt là được doanh nghiệp chấp nhận. Có một câu nói của tôi được VTV1 chọn là phát ngôn ấn tượng: “Doanh nghiệp chỉ mua những gì đã hoàn thiện”. Từ cái người ta mua đó, người ta phải tính được người ta bỏ ra ngần này tiền mua thì sẽ thu lại được bao nhiêu; chứ không phải tương lai, tiềm năng người ta sẽ thu được bao nhiêu”.

- Tác phong làm việc kỹ lưỡng, chắc chắn ngay từ bước đầu tiên khi bắt đầu một công trình khoa học được hình thành từ khi nào, thưa bà?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Có lẽ là từ khi tôi còn nhỏ. Tôi là dân chuyên toán và muốn giải một bài toán rõ ràng phải chắc từng bước một, đặc biệt là bước đầu tiên, sai là hỏng cả bài.

Vào đại học, tôi học khoa Hoá – Đại học Bách Khoa Hà Nội, là dân kỹ thuật, tác phong đó càng được phát triển hơn ở độ chính xác, logic, sự kiên trì.

Tới khi sang Pháp, tôi được làm việc ở Viện nghiên cứu quá trình Xúc tác và Môi trường tại Lyon. Tôi làm thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ 3 năm (1996-1999), làm Post-Doc (thực tập sau tiến sĩ) 2 năm (2001-2003), sau đó làm chuyên gia phía Việt Nam trong hợp tác quốc tế với Pháp hơn chục năm (2003-2014). Ở viện nghiên cứu xúc tác lớn nhất châu Âu này, tôi được làm việc với các giáo sư nổi tiếng trong lĩnh vực của mình. Trong quá trình học tập và làm việc tại Pháp, tôi học được tính chuyên nghiệp, phương pháp luận khoa học, tiếp cận khoa học. Một điều đặc biệt, bên đó, họ không chỉ theo đuổi kết quả mà coi trọng cả quá trình nghiên cứu. Nói cách khác, kể cả anh nghiên cứu hỏng thì đó cũng là một sự đóng góp.

Tinh thần đó giúp tôi luôn cân bằng để vượt qua được những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua được. Tôi trân trọng tất cả những gì mình thu được, kể cả đó là những thất bại. Sau mỗi thất bại tôi có một bài học, tôi rất quý bài học đó và chắc chắn tôi sẽ không mắc phải nữa đâu nhé! (cười).

-Có tấm gương nào của người thầy mà bà không thể nào quên?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Tôi may mắn khi gặp nhiều người thầy truyền cảm hứng trong sự nghiệp của mình. Thời sinh viên, tôi được học một thầy nói tiếng Anh, tiếng Pháp rất giỏi, thầy giảng bài rất hay, thầy làm chuyên gia đi dạy ở nước ngoài. Hình ảnh của thầy tạo động lực giúp tôi muốn được tiếp tục đi học sau đại học ở các nước phát triển.

Người thầy thứ 2 là Cố giáo sư Mai Tuyên ở Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam – người đã nhận tôi vào viện ngày 1.10.1992, khi tôi mới là một cô sinh viên vừa ra trường. Tôi vẫn nhớ, Giáo sư rất kiệm lời, không phỏng vấn gì, chỉ đưa cho tôi một cuốn sách khoa học tiếng Nga, trang sách đã nhuốm màu thời gian viết về chất xúc tác và bảo “cháu đọc cho bác nghe”. Một động tác như vậy thôi nhưng Giáo sư đã kiểm tra được cả ngoại ngữ và chuyên môn của tôi. Trong quá trình làm việc, Giáo sư Mai Tuyên đã truyền động lực nghiên cứu khoa học cho tôi.

Sang Pháp, tôi gặp thêm nhiều thầy, trong đó có giáo sư giỏi số 1 châu Âu về lĩnh vực xúc tác Zeolit nhưng thầy lại rất giản dị, yêu thương đội nghiên cứu sinh chúng tôi, coi như con cháu trong nhà. Tất cả điều đó làm tôi có cảm giác yêu quý môi trường khoa học cực kỳ! Tôi cảm thấy mọi thứ xung quanh mình rất tuyệt vời nên cứ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Có thể nói, tôi có tình yêu, niềm say mê khoa học từ những con người mình được gặp gỡ.

- So với các nhà khoa học nam, các nhà khoa học nữ gặp nhiều khó khăn hơn để đi tới cùng đam mê do còn vướng bận thiên chức “làm vợ, làm mẹ”. Bà nghĩ sao?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Từ thuở nhỏ tôi đã suy nghĩ rất ngây thơ, không có sự phân biệt giữa nam và nữ, việc gì con trai làm được, tôi nghĩ mình cũng làm được. Suy nghĩ đó theo tôi tới lúc trưởng thành, chẳng hề xuất hiện một chút khác biệt: Việc này nam làm được nhưng không dành cho nữ…

Phải sau khi lập gia đình, tôi mới cảm nhận rõ mình có nhiều trách nhiệm khác. Và để có nhiều thời gian, tâm huyết nghiên cứu khoa học, tôi rất biết ơn những người trong gia đình đã hiểu được công việc của tôi, dành tất cả tình cảm, mọi hỗ trợ tốt nhất, chia sẻ với tôi.

Có câu nói, phía sau thành công của một người đàn ông, luôn có bóng dáng một người phụ nữ. Và với tôi, sau thành công của mình, có bóng dáng của rất nhiều người, đó là con trai, con gái, chồng, bố mẹ chồng, bố mẹ mình hỗ trợ từng ngày từng giờ… Tôi nghĩ điều đó quý giá vô cùng, cả gia đình luôn ủng hộ tôi tuyệt đối.

Nhưng phải khẳng định, tôi vẫn không thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ, không có khái niệm là nữ chỉ nên chỉ làm đến mức độ này là dừng... Đối với tôi, với mọi thứ nếu mình muốn làm, mình cố gắng hết sức, quyết tâm thì sẽ tìm ra giải pháp. Tìm được giải pháp rồi thì trước sau sẽ tìm được người hỗ trợ. Còn có thành công hay không lại là chuyện khác.

Có một câu chuyện khiến tôi “nổi tiếng” trong giới nghiên cứu khoa học là thời điểm em bé thứ 2 của tôi chào đời sớm 20 ngày. Tôi chẳng có sự chuẩn bị gì cả, chiều nay đi làm về, tối đi sinh. Tất cả mọi thứ cả bộ máy đang làm còn dở dang. Nếu tôi dừng lại, nghỉ mất 6 tháng, cả bộ máy sẽ phải dừng theo, không thể được! Vậy là 3 ngày sau khi sinh con, tôi quyết định quay trở lại làm việc. Hồi ấy, mọi người rất ngạc nhiên khi tôi đặt em bé vào một cái giỏ và xách đi họp cùng mẹ ở một cuộc họp xét duyệt nhiệm vụ KHCN cho phòng chúng tôi do cơ quan cấp trên chủ trì. Em bé được 11 tháng tuổi, tôi mang con sang Pháp công tác cùng. Và khi công việc bận quá, không ai trông con thì tôi đưa cả mẹ chồng sang Pháp.

Tóm lại, mình cứ sắp xếp công việc cùng với sự hỗ trợ của người thân, mình có thể thực hiện được nhiều vai trò cùng lúc. Ngày ấy, nếu tôi nghĩ “thôi, việc này cũng không gấp” và cứ nghỉ 6 tháng theo chế độ thì cũng là một sự đúng đắn. Nhưng tính của tôi muốn vượt qua những khó khăn như vậy theo cách của riêng mình.

- Một câu hỏi vui bên lề, thời sinh viên, bà được các bạn gọi là Hà “thộn”, và bây giờ, giới chuyên môn lại mệnh danh bà là “phù thuỷ xúc tác”. Hai biệt danh đó có vẻ hơi ngược nhau?

GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Tôi nghĩ hai biệt danh đó không ngược nhau chút nào vì đó là bản tính của tôi. Khi mình suy nghĩ cái gì đó, bất kể ở chỗ nào, mình đều tập trung cao độ, dồn mọi nơ-ron thần kinh của mình cho việc đó, và tự nhiên mặt thộn ra. “Phù thuỷ xúc tác” cũng vậy thôi, làm việc gì mình cũng say sưa, say mê, dành tất cả mọi tâm huyết, trí não, sức khoẻ… cho việc đó.

Ngoài khoa học, bà có niềm vui khác để thư giãn, tái tạo năng lượng?

- GS-TS Vũ Thị Thu Hà: Gia đình là một niềm vui. Cả gia đình tôi thường cùng nhau nấu ăn, những giây phút đó thật hạnh phúc. Tôi nấu ăn chưa được ngon lắm nhưng tôi tự tin nếu tập trung hết sức, tôi nấu ăn sẽ rất ngon.

Một điều tôi cảm thấy rất vui là con trai của tôi hiện cũng đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Pháp, tại đúng Viện nghiên cứu quá trình xúc tác và môi trường mà tôi từng theo học. Ở bên Pháp, con gặp được nhiều người thầy, người bạn của tôi và con rất tự hào về mẹ. Bây giờ, bạn ấy còn say mê nghiên cứu khoa học hơn cả mẹ!

Con gái của tôi đang học lớp 12 và nhiều khả năng cũng sẽ trở thành một nhà nghiên cứu hoá học tiếp theo, đi tiếp con đường của mẹ và anh. Con đường đó hoàn toàn do các bạn ấy tự lựa chọn và tôi rất tâm đắc.

Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện cởi mở cùng Cà phê Một Thế Giới. Chúc bà có thêm những công trình nghiên cứu khoa học, đóng góp vào sự phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

                                                            Nguồn: Lê Minh Đức - Mục Cà phê Một Thế giới